Lời Đức Đạt Lai Lạt Ma

Thời gian không đợi ai. Kể từ khi chào đời, chúng ta cứ từng phút từng giây tiến đến gần đoạn kết, về cái chết. Đời sống con người là như vậy, thế giới này, vũ trụ này, tất cả đều như vậy cả…

Tâm của chúng ta đây, cho dù hiện tại chứa đầy vô minh và khổ đau, vẫn có thể chuyển thành tâm giác ngộ của một đấng Phật đà. Nếu nói về vật chất tiền tài thì đúng là nên tri túc, đừng ham muốn. Nhưng trên lĩnh vực tâm linh, vì tiềm năng của tâm thức con người không giới hạn mà đời sống thì lại có hạn, cho nên phải cố gắng tối đa, tận dụng khoảng thời gian sống ngắn ngủi để làm hết những gì tâm có thể làm được, nhờ kiếp người quý giá này…

Lời Đức Đạt Lai Lạt Ma

Tuesday, January 20, 2026

“Gagarin có thực sự bay vào vũ trụ?” và các thuyết âm mưu xung quanh nó

Trong một câu chuyện nói với anh bạn kỹ sư quân sự Nga, anh này có kể: trong lưu trữ của KGB Liên Xô trước đây, “hồ sơ Gararin” là một câu chuyện thần bí và đầy yếu tố của thuyết âm mưu. Đến nay mặc dù đã hơn 60 năm, nhưng do tính chất rất nhạy cảm của nó, vụ việc vẫn được nằm trong danh  mục tuyệt mật. Có thể nói, đây là một trong những thuyết âm mưu nổi tiếng nhất thời kỳ Chiến tranh Lạnh, thường được gọi là thuyết “Những nhà du hành bóng ma” (Lost Cosmonauts).

1. Câu chuyện bắt đầu từ một nhà du hành vũ trụ khác 

Vladimir Ilyushin, con trai của nhà thiết kế máy bay nổi tiếng dòng IL – ông Sergey Ilyushin. Khoảng ngày 10/4/1961, báo đăng Vladimir Ilyushin bị thương nặng trong một tai nạn xe hơi. Thực tế Vladimir Ilyushin đã gặp một vụ tai nạn ô tô nghiêm trọng vào tháng 6/1960 và phải sang Trung Quốc điều trị bằng y học cổ truyền. Các phóng viên phương Tây nhìn thấy ông ở Trung Quốc với thương tích đầy mình đúng vào thời điểm tháng 4/1961 nên đã thêu dệt nên câu chuyện “phi hành gia bị rơi”, chuyện khá om sòm, vì nó được tung ra vào đúng thời điểm Gagarin, người trái đất đầu tiên bay vào vũ trụ. 

Mọi thông tin sau đó được công bố cho toàn thế giới thấy, Liên Xô là nước đầu tiên đưa con người bay vào vũ trụ. Mọi chuyện đều cho thấy người Xô-viết không hề dối trá, trong đó sự giám sát của Hoa Kỳ là bằng chứng quan trọng nhất. Các trạm radar và trạm nghe lén của NSA (Cơ quan An ninh Quốc gia Mỹ) tại Thổ Nhĩ Kỳ và Alaska đã thu được tín hiệu vô tuyến truyền về từ tàu Vostok 1 của Gagarin. Nếu Liên Xô bịa chuyện, Mỹ – đối thủ lớn nhất đang khao khát chiến thắng trong cuộc đua vũ trụ – sẽ là người đầu tiên bóc trần sự thật để hạ uy tín đối phương. Nhưng thực tế, Tổng thống John F. Kennedy đã gửi điện chúc mừng. 

Mọi thứ diễn ra thật hoàn hảo. Khi Gagarin hạ cánh xuống một cánh đồng gần vùng Saratov, một bà nông dân và cháu gái đã tận mắt thấy một người đàn ông mặc bộ đồ bay màu cam rực rỡ từ trên trời rơi xuống. Những chi tiết này sau đó trùng khớp với các báo cáo kỹ thuật. 

Nếu xét trên góc độ bằng chứng lịch sử và khoa học, khả năng chuyến bay của Yuri Gagarin vào ngày 12/4/1961 là giả mạo – khả năng là cực kỳ thấp, nhưng cũng chính vì cái “khả năng cực kỳ thấp” này mà nó lại càng dính dáng đến nhiều đồn đoán và càng bị nghi ngờ. Đầu tiên, phải nói rằng trong hai thập niên 1950 và 1960, khả năng giữ bí mật của Liên Xô là tuyệt đối, do vậy dự án đưa người vào vũ trụ của nước này cũng hoàn toàn nằm trong vòng bí mật. Mọi thông tin liên quan đến nó chỉ được công bố sau khi nó hoàn thành và cũng không phải điều gì cũng được công bố. 

2. Những bằng chứng khẳng định chuyến bay là CÓ THẬT. 

Mặc dù chuyến bay được giữ tuyệt mật, nhưng CIA vẫn có những thông tin “phong thanh” về nó và gửi yêu cầu đến NSA. Bằng các trạm radar và trạm nghe lén của NSA (Cơ quan An ninh Quốc gia Mỹ) tại Thổ Nhĩ Kỳ và Alaska người Mỹ đã thu được tín hiệu vô tuyến truyền về từ tàu Vostok 1 của Gagarin. Rõ ràng là đang có một sự kiện gì đó đang diễn ra mà người Mỹ chưa biết đích xác là chuyện gì. Họ nghe thấy các tín hiệu vô tuyến truyền về và thông qua phân tích nội dung của các đoạn “hội thoại” đó mà xác định, khả năng cao nhất là có một chuyến bay vào không gian do Liên Xô đang tiến hành.

Do vậy, khi Liên Xô công bố kết quả thành công của chuyến bay, phía Mỹ đã quyết định thông qua lời chúc mừng của Tổng thống Kennedy, xác nhận chuyện này. 

10 năm sau, vào năm 1971 có một chi tiết được tiết lộ: Gagarin mặc dù đã thực sự bay vào vũ trụ, nhưng đáng nhẽ ra nó không được ghi nhận đây là một kỷ lục thế giới. Vào những năm 1960, Liên đoàn Hàng không Quốc tế (FAI) là cơ quan chịu trách nhiệm chứng nhận các kỷ lục hàng không và vũ trụ. Quy định của FAI lúc đó nêu rõ: để một chuyến bay vũ trụ được công nhận là kỷ lục thế giới, phi hành gia phải hạ cánh bên trong tàu từ lúc cất cánh cho đến khi chạm đất. Nếu Gagarin nhảy dù ra ngoài trước khi tàu tiếp đất, về mặt kỹ thuật, chuyến bay có thể bị coi là “không hoàn thành” hoặc không hợp lệ theo tiêu chuẩn của FAI. Vì khao khát đánh bại Mỹ để giành danh hiệu “nước có người đầu tiên”, Liên Xô đã buộc Gagarin và các quan chức phải tuyên bố rằng ông đã hạ cánh an toàn bên trong khoang tàu Vostok 1. 

Thực tế, Gagarin đã không thể hạ cánh xuống mặt đất bằng khoang đổ bộ, mà phải nhảy dù ra ở độ cao 7000m. Việc Liên Xô quyết định giấu kín chi tiết Yuri Gagarin phải nhảy dù ra khỏi khoang lái ở độ cao 7.000m không chỉ là vấn đề thể diện, mà nó còn liên quan trực tiếp đến các quy định pháp lý quốc tế khắt khe thời bấy giờ. 

Công nghệ của tàu Vostok 1 thời điểm đó còn khá sơ khai, chủ yếu là Liên Xô chưa thể chế tạo được hệ thống giảm xóc đảm bảo cho việc hạ cánh an toàn. Khoang hạ cánh của Vostok 1 không có hệ thống phanh phản lực đủ mạnh để giảm tốc độ chạm đất xuống mức an toàn cho con người. Nếu ngồi bên trong khi tàu đập xuống đất, lực va chạm có thể gây chấn thương cột sống hoặc tử vong. 

Việc để phi hành gia nhảy dù là một “giải pháp tình thế” thông minh về kỹ thuật nhưng lại là một điểm yếu về mặt hình ảnh, vì nó cho thấy công nghệ hạ cánh của Liên Xô chưa thực sự hoàn thiện. 

Lại 20 năm sau nữa. Sau khi Liên Xô tan rã, hàng loạt tài liệu mật, băng ghi âm và các biên bản kỹ thuật về 11 lỗi hệ thống xảy ra trong chuyến bay đã được công bố. Nếu là một kịch bản giả, họ thường xây dựng một câu chuyện hoàn hảo hơn là một chuyến bay đầy rẫy rủi ro và sai sót suýt mất mạng như vậy. 

Hai câu chuyện này hết sức tình cờ, đã làm tăng thêm tính xác thực của câu chuyện. Có yếu tố mờ ám và gian dối, nhưng chỉ để che đậy trình độ còn kém, chưa đảm bảo của Liên Xô, nhưng chính những câu chuyện này lại góp phần khẳng định rằng, Liên Xô đã thực sự là nước đầu tiên đưa con người vào vũ trụ. 

3. Và những bằng chứng để củng cố thuyết âm mưu 

Câu chuyện bắt đầu từ việc, hôm 10/4 một phóng viên người Anh của một tờ báo lá cải Anh quốc “xe cán chó” đã đưa tin có một phi công lái máy bay thử nghiệm tên là Vladimir Ilyushin, con trai của tổng công trình sư Liên Xô nổi tiếng đã… bay vào vũ trụ. Sau đó không hiểu vì lý do gì, tin này không được tiếp nối, đặc biệt bởi các cơ quan truyền thông Liên Xô. Tass không được quyền tuyên bố gì hết, mà chỉ vài ngày sau, họ mới tuyên bố về chuyến bay Vostok 1 đưa Gagarin vào vũ trụ. Còn cái anh Vladimir Ilyushin nào đó, hóa ra không bay vào vũ trụ như cái hãng tin Anh hú họa kia lanh chanh, mà anh ta bị tai nạn xe hơi, và anh ta được đưa sang… Trung Quốc để chữa trị các vết thương của mình. Phóng viên nước ngoài nhìn thấy anh ta ở đó, mình đầy thương tích. Đúng là như trong phim. 

Cụ thể là… theo Wikipedia tiếng Anh. #trích Dennis Ogden đã viết trên tờ báo Cộng sản phương Tây Daily Worker rằng thông báo của Liên Xô rằng Ilyushin đã gặp tai nạn xe hơi nghiêm trọng thực chất là một câu chuyện che đậy cho chuyến bay vào quỹ đạo ngày 7 tháng 4 năm 1961 bị lỗi. Một câu chuyện tương tự đã được kể bởi nhà phát thanh người Pháp Eduard Bobrovsky, nhưng phiên bản của ông cho rằng vụ phóng xảy ra vào tháng 3, dẫn đến việc Ilyushin rơi vào trạng thái hôn mê. Tuy nhiên các trạm quan trắc của NORAD (Bộ Tư lệnh Phòng không Bắc Mỹ) không ghi nhận bất cứ vụ phóng tên lửa nào tầm cỡ đến như vậy trong thời gian đó. Cuối năm đó, U.S. News & World Report đã lan truyền tin đồn bằng cách tuyên bố rằng Gagarin chưa bao giờ bay và chỉ là người đóng thế cho Ilyushin bị bệnh hoặc bị thương nặng. Bộ phim (tài liệu) “The Cosmonaut Cover-Up” năm 1999 đưa ra quan điểm rằng Ilyushin là người đầu tiên bay vào vũ trụ và thảo luận chi tiết về vụ che đậy bị cáo buộc. Họ tuyên bố, “Theo các tài liệu được giải mật gần đây, Ilyushin được đặt trong một khoang có tên Rossiya, và chuyến bay bí mật đã diễn ra vào sáng sớm thứ Sáu ngày 7 tháng 4 năm 1961.” Sau sự cố trục trặc hệ thống dẫn đường, phi hành gia được cho là đã hạ cánh khẩn cấp không có hệ thống dẫn đường ở Trung Quốc, bị thương quá nặng đến mức không thể tuyên bố nhiệm vụ đã thành công hoàn toàn. Bộ phim khác có tên “Fallen Idol: The Yuri Gagarin Conspiracy” năm 2009 cũng có cùng quan điểm và thảo luận thêm về những nỗ lực của Mỹ nhằm tiếp tục cáo buộc, thậm chí viện dẫn an ninh quốc gia để không công bố thông tin theo Đạo luật Tự do Thông tin. Lúc này một chi tiết cực kỳ quan trọng được công bố: dữ liệu tìm kiếm từ trạm theo dõi của CIA tại đảo Tern, nơi được cho là đã theo dõi và ghi lại nhiệm vụ thất bại của Iluyshin, có ghi nhận vụ phóng. #hết_trích 

Tai nạn xe hơi là một vụ được dàn dựng bởi một cơ quan nào đó của Liên Xô để che giấu vụ phóng người vào vũ trụ nhưng không thành công. Bản thân việc lựa chọn Vladimir cũng gặp phải nhiều lực cản, dù người phi công thử nghiệm này thực sự xuất sắc, được cho là hơn Gagarin rất nhiều, hơn nữa lại là con trai của công trình sư máy bay nổi tiếng. Khi đặt lên bàn cân, Vladimir có gia thế và chuyên môn. Yuri có nụ cười khả ái và khuôn mặt đẹp trai “đậm chất Nga”. Cuối cùng, Vladimir thắng thế. Tiếc rằng chuyến bay này đã làm cho người phi công phải hạ cánh bắt buộc xuống… Trung Quốc. Theo những thông tin không chính thức tôi nghe được, thay vì rơi xuống Kazakhstan thì anh ta đáp xuống Tân Cương. 

Sức ép quá mạnh lên Chính phủ Liên Xô, phải có một kỷ lục, một bàn thắng làm thủng lưới Hoa Kỳ, vì vậy hai ngày sau, một chuyến bay khác được thực hiện, và lần này Yuri được lên tàu. Và bây giờ mới là lúc, các nghi vấn nổi hết cả lên. 

Còn có những thuyết âm mưu kiểu khác về “người bay trước” Vladimir Ilyushin. Chuyến bay của Ilyushin được cho là đã gặp lỗi hệ thống điều hướng sau 3 vòng quỹ đạo. Ông không thể nhảy dù ra ngoài mà phải hạ cánh cứng trong khoang tàu xuống lãnh thổ Trung Quốc và bị thương rất nặng. Vì Ilyushin bị Trung Quốc bắt giữ (lúc đó quan hệ Trung – Xô đang rất xấu) và chuyến bay không hoàn hảo, Liên Xô đã quyết định bịt đầu mối. Họ cần một chiến thắng “sạch sẽ” 100% để tuyên truyền, và thế là Gagarin được đưa lên bệ phóng vào ngày 12/4. 

Đến đây sự phi lý về năng lực kỹ thuật làm tôi đặt ngay câu hỏi với người bạn Nga: cần đặt nghi vấn về khoảng thời gian “5 ngày”. Câu hỏi đặt ra là: làm sao một hệ thống cơ khí và hậu cần còn non trẻ lúc đó có thể chuẩn bị hai vụ phóng tên lửa vũ trụ khổng lồ chỉ trong vòng 5 ngày? Thời điểm đó, việc chuẩn bị một bệ phóng tại Baikonur mất hàng tuần, thậm chí hàng tháng. Việc kiểm tra kỹ thuật cho một tên lửa đẩy Vostok là quy trình cực kỳ phức tạp. Nếu vụ của Ilyushin là thật và bị lỗi, về mặt kỹ thuật, Liên Xô sẽ phải dừng lại để điều tra nguyên nhân thay vì phóng tiếp một quả khác ngay lập tức. Việc phóng Gagarin chỉ sau 5 ngày (nếu vụ trước có thật) là một canh bạc liều lĩnh đến mức điên rồ, ngay cả với tiêu chuẩn liều mạng của Xô-viết lúc đó. 

Câu hỏi thứ hai tôi đặt ra: nếu Ilyushin đáp xuống Tân Cương cùng với khoang đổ bộ, thì đây đúng là cả cục vàng nặng mấy tấn rơi xuống đầu người Trung Quốc. Nếu Trung Quốc túm được Ilyushin và khoang đổ bộ, họ nắm trong tay một báu vật công nghệ. Lúc đó quan hệ Xô Trung đã bắt đầu rạn nứt (khoảng từ năm 1956 và đi đến đỉnh điểm năm 1969 với vụ đảo Damansky). Vì vậy nếu chộp được khoang đổ bộ với phi công thì thật là tuyệt vời cho Trung Quốc. 

Nhưng câu chuyện bị tai nạn xe hơi và phải sang Trung Quốc để chữa trị thì còn hoang đường hơn. Một phi công thử nghiệm cấp cao, nắm giữ những bí mật quân sự hàng đầu như Vladimir Ilyushin (lại là con trai của tổng công trình sư thiết kế máy bay nổi tiếng) thì không bao giờ được phép sang một quốc gia đang đối đầu như Trung Quốc để “chữa bệnh bằng y học cổ truyền” không rõ châm cứu hay đánh gió nữa, trong khi y học Liên Xô lúc đó không hề thiếu nguồn lực. Câu chuyện “đi chữa bệnh” rất có thể là một kịch bản được dựng lên để giải thích tại sao Ilyushin lại có mặt tại Trung Quốc vào đúng thời điểm đó. 

4. Thử tìm cách giải thích cho toàn bộ câu chuyện 

Trong Chiến tranh Vệ quốc có một câu chuyện có thật như thế này. Phát-xít Đức đã “đánh” được một tên gián điệp vào tận Bộ tham mưu của một Phương diện quân Liên Xô. Cơ quan phản gián Xô-viết (SMERSH) đã dày công “nghiên cứu” và xác định được hắn là ai, nhưng chưa bắt vì muốn “hốt trọn ổ”. Ngược lại phía Đức cũng muốn “tương kế tựu kế”, biết rằng người của mình đã bị lộ, nhưng chưa bị bắt, chúng quyết định tận dụng cơ hội này. Chúng tìm ra trong Bộ chỉ huy của Phương diện quân có một nữ sĩ quan cao cấp (thiếu tá hoặc trung tá) nhưng chị này có gia đình bị kẹt lại trong vùng Đức chiếm, nên dùng chính tên gián điệp uy hiếp Bộ tư lệnh Phương diện quân: nếu bắt tên gián điệp Đức, gia đình của chị sĩ quan Hồng quân sẽ bị hành quyết. Bằng âm mưu đó, chúng ép Bộ tư lệnh Phương diện quân phải cho tên gián điệp đi quan sát các điểm bố phòng lực lượng trên khu vực Mặt trận. Bộ tư lệnh Phương diện quân cùng Ban Tham mưu của mình quyết định lại “tương kế tựu kế” trở lại. Các đơn vị chuẩn bị tham gia chiến dịch tấn công được che đậy ngụy trang rất kỹ khi tên gián điệp đi quan sát, nhưng vẫn có những chỗ lộ ra đó là “hàng giả”. Những chi tiết này không qua mắt được tên gián điệp, nên hắn đánh giá và báo cáo về: khu vực dự kiến Hồng quân sẽ tấn công đó, là nghi binh. Hồng quân sẽ tổ chức mũi tấn công chính ở một khu vực khác. Thực tế khi trận đánh diễn ra, mũi tấn công chính đã ở chính chỗ có những khí tài giả nghi binh đó. 

Đây chính là “kiểu” của các cơ quan đặc biệt Xô-viết trước đây và cả KGB sau này, thực là hư, hư là thực, thực là thực mà hư cũng là hư, làm cho đối phương không biết đằng nào mà lần. Trong hồ sơ của cặp phi hành gia Vladimir Ilyushin – Yuri Gagarin, nếu người Nga quyết định sử dụng 11 lỗi kỹ thuật của chuyến bay này và gán cho chuyến bay khác, nhưng họ sẽ không công bố, mà giấu thật kỹ (kiên quyết không để lộ), nếu bị lộ thì sẽ là do… hên xui, thì tính THẬT của chuyến bay nếu bị ngụy tạo, càng được đảm bảo.  

Câu chuyện thời Chiến tranh Vệ quốc là một ví dụ kinh điển về nghệ thuật Maskirovka (ngụy trang chiến lược) của Liên Xô. Câu chuyện về tên gián điệp và những “khí tài giả” lộ liễu thực chất là một đòn đánh tâm lý cực hiểm: nó đánh vào cái sự quá tự tin của đối phương. Khi tên gián điệp phát hiện ra là “đồ giả”, hắn tự đắc cho rằng mình đã nhìn thấu màn kịch, mà không ngờ rằng cái “giả” đó mới là lớp vỏ bọc hoàn hảo nhất cho cái “thật” cũng đang ở đâu đó rất gần và sẵn sàng cho đòn tấn công thật từ chính khu vực này. 

Với câu chuyện của cặp phi hành gia Vladimir Ilyushin – Yuri Gagarin, nếu Liên Xô thực sự muốn ngụy tạo một huyền thoại, họ sẽ không xây dựng nó hoàn hảo 100%. Một hồ sơ quá sạch sẽ thường gây nghi ngờ. Họ có thể lấy những lỗi kỹ thuật chết người từ chuyến bay thất bại của Ilyushin (nếu có), đem “gán” một phần vào hồ sơ của Gagarin nhưng ở mức độ nhẹ hơn, hoặc cố tình để lộ ra một vài “chỗ rò” thông tin có kiểm soát. Khi các cơ quan tình báo phương Tây (như CIA) tốn nhiều công sức để khám phá ra 11 lỗi đó, họ sẽ gần như chắc chắn tin rằng đây chính là sự thật mà người Xô-viết muốn giấu. Một khi đã tin vào 11 lỗi đó là thật, họ sẽ mặc nhiên công nhận toàn bộ chuyến bay của Gagarin là có thật, mà không còn nghi ngờ gì về việc liệu có một người khác (Ilyushin) đã bay trước đó hay không. 

Theo một số “mắt la mày lét” từ những người bị sa thải khỏi KGB nay là FSB thời thập niên 1990, sau khi Liên Xô tan rã vài năm, thậm chí vụ Gagarin không có thật, khoang đổ bộ được làm giả hoặc dùng chính khoang của Vladymir, và Gagarin đã thực sự nhảy dù từ máy bay ở độ cao 7000 mét. Ngay cả việc anh ta hạ cánh được ở Saratov cũng là cả một câu chuyện đáng để nghi vấn. Theo một số ý kiến chuyên môn, người ta đã tính rằng Gagarin nhẽ ra phải rơi xuống Ấn Độ Dương. Đây chính là thuyết âm mưu về “Sự dối trá vĩ đại” của Liên Xô. Nếu kịch bản này là đúng, thì Yuri Gagarin không phải là một phi hành gia theo nghĩa kỹ thuật, mà là một diễn viên đóng thế vĩ đại nhất lịch sử nhân loại. Câu chuyện thực sự đáng ngờ vì một số chi tiết mà Liên Xô không dám làm giả hoặc ngụy tạo, vì rủi ro đi kèm là quá lớn. Chẳng hạn, câu hỏi về vụ hạ cánh tại Saratov và nghi vấn về lý thuyết nó phải rơi xuống Ấn Độ Dương lột tả một sự phi lý về cơ học quỹ đạo mà giới khoa học độc lập đã từng mổ xẻ, mà người ta gọi là “nghịch lý Saratov.” 

Nếu Gagarin thực sự chỉ nhảy dù từ một chiếc máy bay vận tải ở độ cao 7.000m trên bầu trời Saratov, điều đó giải quyết được mọi rủi ro kỹ thuật mà Liên Xô đang gặp phải lúc đó, mà tuyệt vời nhất là đem lại khả năng kiểm soát hoàn toàn sự kiện. Họ có thể chọn địa điểm hạ cánh chính xác nhất để quay phim, chụp ảnh và cho các nhân chứng, ở đây là bà nông dân và cô cháu gái. xuất hiện đúng lúc. Khi đó, cần chuẩn bị một khoang đổ bộ giả. Khoang đổ bộ của tàu Vostok 1 mà người ta thấy ở bãi đáp có thể chính là khoang của Vladimir Ilyushin đã được “tân trang” lại, hoặc chỉ là một vỏ rỗng được thả xuống bằng máy bay để tạo hiện trường giả. 

Theo các lỗi bị lộ ra sau này, thì nghi vấn “rơi xuống Ấn Độ Dương” trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết, thậm chí nó là bằng chứng đanh thép nhất về mặt vật lý. Các chuyên gia quỹ đạo hành trình đã tính toán dựa trên thông số quỹ đạo mà Liên Xô công bố và căn cứ trên các lỗi kỹ thuật, ví dụ lỗi thời gian đốt động cơ ngược (Retroburn)… và cho rằng nếu động cơ đẩy ngược của tàu Vostok hoạt động không hoàn hảo hoặc bị chậm vài giây (điều thường xuyên xảy ra với công nghệ thời đó) thì theo quán tính và góc tái nhập, điểm hạ cánh sẽ bị lệch hàng ngàn cây số. 

Thay vì rơi xuống thảo nguyên phía nam nước Nga, con tàu nhẽ ra phải lao xuống Ấn Độ Dương hoặc một khu vực hẻo lánh nào đó ở phía Nam bán cầu. Việc Gagarin hạ cánh “đúng quy trình” và đúng địa điểm dự kiến tại Saratov trong điều kiện công nghệ thô sơ năm 1961 bị coi là một sự trùng hợp “phép màu” quá mức khả năng kỹ thuật của thời đại – hoặc đơn giản chỉ là một sự dàn dựng có sắp xếp từ trước. 

Quay lại với các vấn đề kỹ thuật thời đó, và căn cứ trên những dữ kiện trên đây, chẳng hạn câu chuyện của Vladimir Ilyushin nếu có, nó phải giống hệt câu chuyện của Yuri Gagarin về giải pháp kỹ thuật, nghĩa là trong vài ngày Sergei Korolev (Tổng công trình sư chương trình không gian Xô-viết) không có khả năng thay đổi được gì hết, đặc biệt là giải pháp hạ cánh êm dịu không tăng nhiệt cho khoang đổ bộ. Vì vậy, cả hai đều sẽ phải nhảy dù từ độ cao lớn. Người kỹ sư Nga nói rằng, nếu phi công không nhảy dù từ độ cao trên 7000 mét, anh ta sẽ chết cháy trong khoang đổ bộ. Hồi đó Liên Xô chưa giải được bài toán chống tăng nhiệt do ma sát với khí quyển cho nó. Khi một vật thể quay trở lại bầu khí quyển với vận tốc vũ trụ cấp 1 (khoảng 28.000km/h), ma sát với tầng khí quyển đặc sẽ tạo ra nhiệt độ lên tới hơn 2.000 độ C. Liên Xô lúc đó dùng vật liệu chống cháy kiểu “mài mòn” tiếng Anh hình như là “ablative shield” – tức là lớp vỏ sẽ cháy dần để tản bớt nhiệt. Dù lớp vỏ ngoài chịu được, nhưng việc ngăn nhiệt độ đó không thẩm thấu vào bên trong khoang lái chật hẹp là cực khó. Để tránh việc phi hành gia bên trong sẽ bị “nướng chín” theo đúng nghĩa đen trước khi chạm đất, có lẽ cách đơn giản nhất là bắn anh ta ra ngoài ở độ cao tính toán: chưa đủ nóng để nướng chín, nhưng độ cao đủ thấp để anh ta đã rơi vào tầng khí quyển không khí đặc. 

Ở độ cao 7000 mét này, vận tốc tàu đã giảm đáng kể nhờ lực cản không khí, nhiệt độ lớp vỏ bắt đầu hạ nhưng áp lực tích tụ bên trong khoang lái và cả nhiệt độ lại tăng cao. Thay vì cố gắng hạ cánh một cái “nồi áp suất” đang nóng rực xuống đất mà lại đảm bảo an toàn cho phi công, họ chọn cách thổi bay nắp khoang và bắn phi hành gia ra ngoài. Việc nhảy dù ở độ cao này giúp phi hành gia thoát khỏi cái lò nung kim loại đó trước khi nó hấp nhiệt hoàn toàn vào bên trong khi nằm trên mặt đất. 

Khoang đổ bộ Vostok nặng hơn 2 tấn, rơi tự do và chỉ mở dù ở độ cao thấp hơn để hãm bớt lực va chạm. Nó có quán tính rất lớn và ít chịu tác động của gió hơn so với một người treo trên một cái dù lớn ở độ cao 7.000m. Khoang rơi đúng (hoặc gần) bãi đáp ở Kazakhstan nên Liên Xô thu hồi được dễ dàng, trong khi phi hành gia Vladimir Ilyushin bị “cuốn theo chiều gió” sang Tân Cương và bị các đồng chí Trung Quốc túm được. 

Như vậy, cả Vladimir và Yuri, đều phải sử dụng chung một giải pháp tức là nhảy ra khỏi khoang đổ bộ, và khoang này thực chất chỉ là một khoang kín bảo vệ phi công khi quay về tầng loãng của bầu khí quyển từ quỹ đạo. Như vậy Vladimir nếu có bay thật, thì đóng vai người tiên phong nhưng không thành công, và năm ngày sau Yuri phải thực hiện lại... Nhưng để chắc ăn, tốt nhất là họ sẽ vứt một khoang đổ bộ cháy sém xuống từ máy bay và phi công thì nhảy dù từ độ cao lớn xuống Saratov, vậy là xong. Saratov nằm sâu trong nội địa Liên Xô, dễ kiểm soát thông tin, xa tầm mắt của các trạm theo dõi radar phương Tây đang tập trung vào Baikonur. 

Các bằng chứng xác nhận chuyến bay của Gagarin có thật thì rất nhiều, nhưng cũng không thiếu những chi tiết góp phần cho tăng cường nghi vấn. Chẳng hạn, việc không có bất kỳ thước phim hay hình ảnh trực tiếp nào về cảnh Gagarin ngồi trong khoang lái Vostok 1 lúc đang bay ngoài vũ trụ. Toàn bộ những thước phim chúng ta thấy sau này, đặc biệt là cảnh Gagarin nói “Poyekhali” – “Lên đường nào!” thực chất là được quay dựng lại trong phòng thu sau đó để làm tư liệu tuyên truyền. 

Bây giờ là câu chuyện về Valentin Bondarenko, thành viên trẻ tuổi nhất trong đội phi hành gia đầu tiên của Liên Xô. Cùng với Gagarin, Titov... anh là một phi công tài năng, đầy triển vọng và được chọn để huấn luyện cho các chuyến bay Vostok. Sự việc xảy ra trong một cuộc thử nghiệm độ bền kéo dài 15 ngày trong một căn phòng áp suất thấp (isolation chamber) chứa 100% oxy nguyên chất, thảm kịch đến vào ngày 23/3/1961, chỉ 19 ngày trước chuyến bay của Gagarin vào vũ trụ. Sau khi kết thúc một bài kiểm tra, Bondarenko dùng một miếng bông tẩm cồn để lau người. Anh vô ý vứt miếng bông đó rơi trúng vào một cái bếp điện đang nóng dùng để pha trà. Trong môi trường 100% oxy, miếng bông bùng cháy dữ dội. Khi Bondarenko cố dập lửa bằng bộ quần áo len đang mặc, chính bộ đồ đó cũng bắt cháy. Do sự chênh lệch áp suất, các kỹ sư không thể mở cửa ngay lập tức. Khi đưa được anh ra ngoài, Bondarenko đã bị bỏng độ 3 toàn thân. Anh qua đời 16 giờ sau đó tại bệnh viện. Người ta kể rằng những lời cuối cùng của anh là: “Đừng trách ai cả, đó là lỗi của tôi.” Để đảm bảo chuyến bay của Gagarin sắp tới diễn ra trong bầu không khí thành công tuyệt đối và không có bất cứ một ‘phốt’ nào, Liên Xô đã xóa sạch mọi dấu vết của Bondarenko. Trong những bức ảnh chụp chung của đội phi hành gia, hình ảnh của Bondarenko bị tẩy xóa một cách vụng về, làm người ta liên tưởng tới ví dụ nổi tiếng nhất về kỹ thuật “xóa khỏi lịch sử: của thời kỳ Xô-viết. Nhân vật bị xóa trong bức ảnh kinh điển đó chính là Nikolai Yezhov, kẻ từng là người đứng đầu cơ quan cảnh sát mật NKVD. Bức ảnh gốc được chụp vào năm 1937 bên bờ kênh Mátxcơva-Volga. Yezhov lúc đó đang ở đỉnh cao quyền lực, đứng ngay bên tay phải của Stalin. Tuy nhiên, sau khi Yezhov bị thất sủng, bị bắt và bị xử bắn vào năm 1940, ông ta đã biến mất hoàn toàn khỏi bức ảnh trong các ấn bản sau này, chỉ còn lại dòng nước của con kênh. 

Nếu hồi đó Liên Xô không giấu nhẹm cái chết của Bondarenko mà công bố rộng rãi về sự nguy hiểm của môi trường 100% oxy, có lẽ các kỹ sư Mỹ đã không lặp lại sai lầm tương tự trên tàu Apollo 1 vào năm 1967 (khiến 3 phi hành gia Mỹ thiệt mạng trong một vụ cháy y hệt trên bệ phóng). Sự tồn tại và cái chết của anh bị coi là bí mật quốc gia. Phải đến tận năm 1986, sự thật mới được tờ báo Izvestia công bố rộng rãi. 

Tại sao lại cần nói chuyện Bondarenko vào đây? Vì Theo Mark Wade, biên tập viên của trang web lịch sử vũ trụ Encyclopedia Astronautica: “Toàn bộ lịch sử ban đầu của chương trình không gian có người lái của Liên Xô đã được giải mật và chúng ta có rất nhiều hồi ký của các phi hành gia, kỹ sư, v.v., những người đã tham gia. Chúng ta biết ai nằm trong đội phi hành gia ban đầu, ai chưa từng bay, ai bị sa thải hoặc ai thiệt mạng trong các cuộc thử nghiệm trên mặt đất. Ilyushin không phải là một trong số họ.”

Với nước nào thì việc tìm không ra một người trong hồ sơ, là kỳ lạ, với Liên Xô thì có gì mà lạ? Theo tôi, cũng chẳng có gì là lạ, có mà anh Wade này ngây thơ mới đúng. Mark Wade nói Ilyushin không có tên trong đội phi hành gia gốc, điều này hoàn toàn đúng về mặt hành chính. Vladimir Ilyushin là con trai của Tổng công trình sư thiết kế máy bay hàng đầu Liên Xô, bản thân ông là phi công thử nghiệm huyền thoại của phòng thiết kế Sukhoi. Nếu ông thực hiện chuyến bay ngày 7/4, ông có thể không được xếp vào nhóm phi hành gia trẻ tuổi như Gagarin mà bay với tư cách một phi công thử nghiệm cấp cao thực hiện nhiệm vụ đặc biệt. Việc không có tên trong danh sách phi hành gia chính là lớp vỏ bọc hành chính hoàn hảo nhất.

Kỳ thực, người Mỹ chỉ ghi nhận được thông tin của một chuyến bay, là chuyến bay của Gagarin vào ngày 12/4, chứ không ghi nhận được vụ phóng trước, nếu có nó thì chắc chắn họ phải bắt được. Điều này làm rối trí các chuyên gia, và họ cho rằng do chuyến bay của Vladimir Ilyushin quá ngắn ngủi và chưa lên đến tầm cao, nên hoàn toàn có thể nhầm lẫn nó với vụ phóng tên lửa đạn đạo hoặc tệ hơn, hệ thống quan trắc bỏ sót nó.

Vào đúng ngày 12/4, các trạm nghe lén của NSA và CIA đã bắt được tín hiệu vô tuyến truyền từ không gian xuống. Họ thu được những hình ảnh nhiễu loạn từ hệ thống “Seliger” trên tàu Vostok. Trong đó, họ thấy khuôn mặt của một người đang đội mũ phi hành gia và môi đang cử động (Gagarin nói: “Poyekhali!” – Lên đường nào!), và các trạm này ghi lại được giọng nói và nhịp tim được truyền về… mà sau này đã bị phát hiện là được Liên Xô thực hiện riêng để tuyên truyền chứ không phải đã diễn ra trên khoang con tàu Vostok 1.

Hoa Kỳ CÓ bắt được tín hiệu vô tuyến và vết radar của một vật thể bay, nhưng liệu vật thể đó có chứa một con người đang ngồi bên trong hay không thì các thiết bị quan trắc từ xa không thể khẳng định 100%. Dữ liệu của NORAD và CIA chỉ xác nhận, có một vật thể bay lên quỹ đạo và có tín hiệu vô tuyến phát ra từ đó. Radar không thể nhìn xuyên qua vỏ thép của tàu Vostok để biết Gagarin có ngồi trong đó từ lúc phóng tại Baikonur hay không. Radar cũng không thể xác nhận Gagarin hạ cánh cùng tàu hay nhảy dù từ máy bay ở Saratov. Trạm quan trắc chỉ thấy một cái “chấm” trên màn hình rơi xuống vùng Saratov, còn việc cái chấm đó là cái khoang rỗng được thả xuống, còn phi hành gia thực sự nhảy ra từ một chiếc máy bay  nào đó ở gần đó thì radar chịu chết.  

Với trình độ kỹ thuật của Hoa Kỳ hồi đó, họ hoàn toàn có thể thu được những tín hiệu phát ra từ tàu vũ trụ nếu có và cũng chắc chắn còn đo đạc các thông số vật lý của sóng vô tuyến để xác định vị trí. Chẳng hạn việc sử dụng hiệu ứng Doppler: khi một vật thể (như tàu Vostok) di chuyển với vận tốc cực lớn (7,9km/s) so với trạm thu trên mặt đất, tần số sóng vô tuyến sẽ bị thay đổi (giống như tiếng còi tàu hỏa thay đổi âm sắc khi đi ngang qua anh). Bằng cách đo độ lệch tần số, Mỹ biết chắc chắn nguồn phát đang ở trên quỹ đạo hay đang đứng yên trên mặt đất. Đồng thời các đĩa radar khổng lồ có độ nhạy rất cao, căn cứ vào góc ngẩng và phương vị của đĩa cũng có thể xác định được hướng nguồn phát. Nếu tín hiệu truyền hình “Seliger” phát ra từ một điểm di động trên bầu trời đúng theo quỹ đạo toán học, Mỹ sẽ xác nhận: “Có một vật thể đang bay trên kia và nó đang phát sóng.” Vì vậy không có khả năng làm giả tín hiệu vô tuyến, phát từ một điểm nào đó trên trái đất, do đó mới nảy sinh kịch bản “máy phát sóng tự động”.

Theo kịch bản đó, Gagarin không có mặt trên tàu mà đang chuẩn bị nhảy dù ở Saratov – thì con tàu Vostok 1 phóng lên ngày 12/4 là một con tàu không mang theo người. Để lừa được các trạm quan trắc của Mỹ, nó phải mang theo băng ghi âm và phim truyền hình sẵn có, những hình ảnh “nhiễu loạn” về khuôn mặt Gagarin và câu nói “Poyekhali!” thực chất đã được ghi hình trước trong studio. Con tàu chỉ việc phát lại theo một lịch trình định sẵn khi nó đi qua vùng phủ sóng của các trạm theo dõi. Để “thật” hơn, họ có thể truyền về các thông số sinh trắc học (nhịp tim, nhịp thở) của một người đang nghỉ ngơi hoặc được ghi lại từ trước. Nếu như vụ Ilyushin ngày 7/4 chỉ là bay “nháp”, Liên Xô có thể đã tắt hết các hệ thống phát tín hiệu công khai, chỉ dùng các kênh viễn trắc nội bộ công suất thấp. Hoặc đơn giản như trên đã trình bày, nó chưa kịp lên đến quỹ đạo đã phải quay về, nên radar tầm xa của Mỹ không coi đó là một vụ phóng không gian mà chỉ là một vụ thử tên lửa tầm ngắn thường nhật trong nội địa Nga. Năm ngày sau với vụ Gagarin, họ chủ động mở mọi kênh phát tín hiệu “Seliger”, phát băng ghi âm sẵn có với công suất tối đa để đảm bảo Mỹ buộc phải nghe thấy. Đó là một buổi trình diễn điện đài có chủ đích.

Trên thực tế, sau này những thông tin khác được công bố cũng đã làm… kinh ngạc các chuyên gia quốc tế, đến mức nghi ngờ: sau này Liên Xô công bố những thước phim rất tốt quay trong khoang tàu, về logic việc chúng được quay và phát về trái đất cùng lúc với quay phim nhựa 16 hoặc 35mm là có thể được, nhưng khá khác biệt vào thời điểm đó. Vào năm 1961, mỗi gram trọng lượng đưa lên quỹ đạo đều quý như vàng, vì vậy nếu có 2 hệ thống, một để ghi hình và truyền về trái đất và một để quay phim nhựa, gần như là không thể. Tàu Vostok 1 cực kỳ chật hẹp, chỉ vừa đủ cho một người ngồi và các thiết bị sinh tồn cơ bản. Một máy quay phim nhựa thời đó rất cồng kềnh, nặng nề và cần hệ thống điện riêng, chưa kể cơ chế chống rung và chống áp suất. Tại sao Liên Xô lại phải mạo hiểm lắp một máy quay phim nhựa nặng nề chỉ để lấy tư liệu, trong khi họ còn chưa chắc chắn con tàu có về được hay không? Và nếu con tàu cháy rụi hoặc rơi xuống Ấn Độ Dương (như tính toán quỹ đạo), cuộn phim đó coi như mất trắng. Trong khi đó, những thước phim trong khoang lái của Gagarin mà chúng ta thấy sau này có ánh sáng rất đầy đủ, góc quay ổn định và nét đến mức kinh ngạc. Trong một khoang tàu đang rung lắc dữ dội khi phóng và xoay tròn khi tái nhập khí quyển, để có được những thước phim như vậy là điều gần như không tưởng với công nghệ máy quay tự động năm 1961. Đa số các chuyên gia hình ảnh sau này đều đồng ý rằng những thước phim rõ nét đó được quay trong một mô hình mô phỏng (Simulator) dưới mặt đất, nơi ánh sáng và góc máy được kiểm soát 100% để phục vụ mục đích tuyên truyền.  

Đến đây, tôi nghĩ chúng ta có thể hình dung phần nào được sự việc. Với trình độ của Liên Xô lúc đó, bị thúc vào lưng bởi deadline “vượt trước người Mỹ”, vốn đã đưa được vệ tinh lên quỹ đạo (Sputnik), nhưng lại muốn ghi thêm bàn nữa là “nước đầu tiên đưa người vào vũ trụ” – chưa chắc chắn để đưa được anh ta về trái đất an toàn. Làm tốt được từng đoạn, không có nghĩa là làm tốt được tất cả quá trình của dự án.

Lộ trình logic nhất của câu chuyện, là nên có chuyến bay vào vũ trụ của Vladimir Ilyushin, nhưng là chuyến bay “nháp”, bản thân nó hoàn toàn có thể thành công như dự kiến của Sergei Korolev nhưng cũng có thể Vladimir sẽ chịu chung số phận với Bondarenko… không sao hết, vẫn sẽ có một chuyến bay thành công. Vấn đề cần giải quyết bây giờ chỉ là: không có gì đảm bảo một chuyến bay đưa con người lên không gian và anh ta phải trở về an toàn, vì chính Vladimir Ilyushin đã được phóng lên không gian, nhưng chưa đến quỹ đạo để bay vòng quanh trái đất anh ta đã phải tìm cách cho khoang đổ bộ tách ra để quay về. Nó đặt ra cho Dự án không gian Xô-viết một bài toán nan giải, có thể nói là không thể giải được vào thời điểm đó: dù Gagarin có được phóng thật vào vũ trụ, thì anh ta cũng sẽ lại phải hành động như Vladimir Ilyushin mà thôi, và chắc gì anh ta đã may mắn được như Vladimir Ilyushin để còn sống sót?

Vì vậy, vẫn có 2 vụ phóng tên lửa, nhưng tình cờ thế nào vụ của Vladimir không được Mỹ ghi nhận, còn vụ thứ hai do những tín hiệu phát quá rõ ràng, họ ghi nhận được. Nhưng tàu vũ trụ có trở về trái đất được hay không, chẳng ai xác định được. Phi công trở về, đáp xuống Saratov, kịch bản hoàn hảo, thế giới tung hô…

Chuyến bay của Gagarin vào vũ trụ ngày 12/4/1961 có thật hay không, còn lâu chúng ta mới được biết, vì nó dính đến niềm kiêu hãnh của người Nga, chứ không còn là của Liên Xô. Theo nhãn quan của tôi, việc nhìn nhận nó cần có cách tương tự với cách nhìn nhận vai trò của Liên Xô trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai: người Nga hiện nay dưới thời Putin, đóng kỹ vai “từ nạn nhân trở thành người hùng”, nhưng nếu xét kỹ hơn, họ góp phần không nhỏ vào việc thúc đẩy chiến tranh nổ ra, và sau này nếu không có sự hỗ trợ to lớn về vật chất của Hoa Kỳ, thì họ cũng không chiến thắng được. Những đóng góp của đất nước Xô-viết trong quá trình chinh phục không gian vũ trụ cho nền văn minh nhân loại là không thể phủ nhận (từ vệ tinh Sputnik đến những lý thuyết của Tsiolkovsky), nhưng những dối trá của họ thì cũng quá nhiều. Vì vậy, tiên phong có tiên phong, đóng góp có đóng góp, nhưng như thánh như thần thì không phải.

Đọc thêm: “Những thảm kịch ở hậu trường chương trình không gian Xô-viết

Bài trên Facebook tại đây


No comments:

Post a Comment